Tin mới:

TKV tái cơ cấu công nghệ, tăng hiệu quả sản xuất
  1. TRANG CHỦ
  2. >
  3. CHUYỂN ĐỘNG DN

09:16 | 01-06-2019

Sản lượng tăng, năng suất lao động tăng, tiền lương thu nhập tăng nhưng tổng số lao động giảm, bộ máy tinh gọn.

TKV ứng dụng cơ giới hóa, tự động hóa, tin học hóa vào sản xuất kinh doanh… hướng đến xây dựng “Mỏ xanh, hiện đại, ít người”. Ảnh minh họa: TTXVN

Đây là kết quả của việc thực hiện hiệu quả Đề án tái cơ cấu của Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) mà điểm mấu chốt là thay đổi, tăng hiệu quả công nghệ sản xuất.

Theo đó, TKV đã ứng dụng cơ giới hóa, tự động hóa, tin học hóa vào sản xuất kinh doanh và quản lý để tăng năng suất, nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất kinh doanh, cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động… hướng đến xây dựng “Mỏ xanh, hiện đại, ít người”.

Theo TKV, nếu như 5 năm trước đây (năm 2014), Tập đoàn có tổng số lao động lên đến gần 140.000 người, riêng lao động làm việc trong lĩnh vực sản xuất than tại Quảng Ninh đã lên tới trên 100.000 người, thì đến nay TKV còn 98.000 lao động. 

Bộ máy tổ chức từ Tập đoàn đến các đơn vị ngày càng được tinh gọn, hiệu quả, nhưng tổng sản lượng khai thác than của TKV vẫn giữ “phong độ” với  gần 40 triệu tấn/năm và nhiều sản phẩm khoáng sản, alumin, vật liệu nổ công nghiệp, điện, cơ khí… Tổng giá trị doanh thu của TKV hiện nay đạt gần 130.000 tỷ đồng/năm.

Để đạt được kết quả trên, về tổ chức sản xuất, TKV đã chỉ đạo các mỏ lộ thiên lớn có chung ranh giới mỏ triển khai trình tự bóc đất, khai thác hợp lý 3 mỏ Cao Sơn, Cọc Sáu, Đèo Nai tạo ra các lợi ích chung.

Cùng đó, Tập đoàn cũng tổ chức kết nối liên thông hàng loạt các mỏ hầm lò, các khu vực khai thác đồng mức ở Quảng Ninh như: khu vực Tân Dân, Hạ My (huyện Hoành Bồ) với khu vực Đồng Vông (thành phố Uông Bí); khu vực Cái Đá với Bắc Bàng Danh (thành phố Hạ Long); khu vực Khe Chàm I với Khe Chàm III và tới đây sẽ là Khe Chàm II-IV (Cẩm Phả) hay các mỏ Núi Béo, Hà Lầm…

Quá trình kết nối giúp các đơn vị có thể ứng dụng các thiết bị công nghệ hiện đại và tiết giảm chi phí vận tải, thông gió, thoát nước, đi lại…Từ đó, tạo ra các giá trị gia tăng lớn hơn trong cùng hệ thống.

Về ứng dụng cơ giới hóa trong sản xuất hầm lò, TKV đã nâng số lò chợ áp dụng khấu than bằng máy đào lò combain để nâng cao năng suất và giảm nhân lực; trong đó, có lò chợ đạt công suất cao nhất là 1,2 triệu tấn than/năm tại Công ty cồ phần than Hà Lầm, tương đương với một mỏ than hầm lò có tới trên 2.000 lao động những năm trước đây.

Các đơn vị khác như: Công ty than Vàng Danh, Nam Mẫu, Dương Huy cũng có những lò chợ khấu than bằng máy công suất từ 450.000 - 600.000 tấn/năm. Các đơn vị này đều đã áp dụng chống lò bằng cột thủy lực, giá khung di động, giàn chống tự vận hành hiện đại, an toàn, mở ra triển vọng về cơ giới hoá sử dụng ít lao động.

Nhờ đó, nếu như cách đây 5 năm, sản lượng than khai thác hầm lò của TKV bằng công nghệ cơ giới hóa ở mức 2%, thì đến nay sản lượng này đã đạt gần 13% trong tổng số sản lượng khai thác hàng năm. Con số này đang tiếp tục được tăng cao, dự kiến năm nay đạt trên 15% và sau năm 2020 sẽ tăng từ 3-5%/năm.

Trong khai thác lộ thiên, các đơn vị đã đưa vào vận tải đất đá bằng xe trọng tải lớn đến 135 tấn. Đặc biệt, Công ty cổ phần than Cao Sơn đã tổ chức mô hình vận tải đất đá hỗn hợp giữa xe ô tô và băng tải đá. Hệ thống băng tải đá mỗi năm vận chuyển trên 20 triệu m3 đất đá, giảm chi phí đáng kể so với các công nghệ cũ.

Trong lĩnh vực tự động hóa, tin học hóa, các đơn vị đã ứng dụng nhiều công nghệ thay thế con người, như: hệ thống cấp phát quản lý nhiên liệu tự động; sử dụng hệ thống quản lý khí mỏ, hầm bơm nước tự động; hệ thống quản lý nhân lực ra vào lò; hệ thống quản lý, đo đếm phương tiện kho bãi tự động; các hệ thống vận hành thiết bị băng tải, máy cào liên động; hệ thống quan trắc môi trường tự động; các phần mềm quản lý nhân sự, kế toán, tài chính, công văn, hóa đơn điện tử ...

Riêng ở các đơn vị sàng tuyển, chế biến than, TKV đã tự động hóa tối đa công đoạn giám sát thông số công nghệ chính trong hệ thống; tự động điều khiển chế độ làm việc của các thiết bị cơ điện trong dây chuyền theo diễn biến công nghệ…Trong lĩnh vực cơ khí mỏ, TKV đã chuyển từ cơ khí sửa chữa sang cơ khí chế tạo phục vụ sản xuất như chế tạo cột thủy lực, tổ chức cán thép vì lò, chế tạo thiết bị phòng nổ, các chi tiết máy với những cỗ robot hiện đại, tự động hoàn toàn.

Những công trình tự động hóa đã được đưa vào vận hành và giảm nhân lực vận hành gần đây là: hệ thống băng tải giếng chính của Công ty than Mạo Khê giúp giảm 70% nhân lực vận hành; hệ thống tự động hóa trạm quạt gió của Công ty than Núi Béo giảm 50% nhân lực; tự động hóa tuyến băng tải lò XV -300 của Công ty than Hà Lầm giảm 40% nhân lực; tự động hóa tuyến băng tải giếng chính của Công ty than Khe Chàm đã giảm 50% nhân lực; hệ thống tự động hóa hầm bơm Hà Lầm giảm 50% nhân lực…

Nhờ đó, năng suất lao động tổng hợp thực hiện trong năm 2018 tính theo doanh thu đạt trên 1,1 tỷ đồng/người/năm, bằng 115,8% so với thực hiện năm 2017. Tính theo sản lượng hiện vật quy đổi đối với sản xuất than đạt khoảng 635 tấn/người/năm, bằng 115,7% so với thực hiện năm 2017. Quan trọng hơn, việc không ngừng đầu tư công nghệ tiên tiến đã giúp TKV phát huy hiệu quả nâng cao trình độ nhân lực vận hành, tăng năng suất lao động và hiệu quả sản xuất, kinh doanh.

Trong thời gian tới, TKV sẽ tiếp tục ứng dụng cơ giới hóa, tự động hóa, tin học hóa vào sản xuất kinh doanh và quản lý để tăng năng suất, nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất kinh doanh của đơn vị./.

>>> TKV bảo vệ môi trường nơi sản xuất

Thảo Nguyên/BNEWS/TTXVN